Register

Welcome to the CompletevB Demo vB4.

If this is your first visit, be sure tocheck out the FAQ by clicking thelink above. You may have to registerbefore you can post: click the register link above to proceed.

CompletevB Demo vB4

Welcome to the CompletevB Demo vB4.



thuyết minh bài Phú Sông Bạch Đằng Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Fri Feb 11, 2011 9:53 am
C1 pro
avatar
[10C1] - nhoc.hung_62

Thiếu tướng

Thiếu tướng
Huy chương Huy chương :
Chưa có

Posts Posts : 303
	Points Points : 557
Thanked : 21
Ngày sinh Ngày sinh : 01/08/1995
Tuổi Tuổi : 22
Đến từ Đến từ : 10C1
Công việc Công việc : học sinh
Status Status : Tiền là giấy đốt là cháy
Giới tính Giới tính : Nam
Huy chương Huy chương :
Chưa có

Posts Posts : 303
	Points Points : 557
Thanked : 21
Ngày sinh Ngày sinh : 01/08/1995
Tuổi Tuổi : 22
Đến từ Đến từ : 10C1
Công việc Công việc : học sinh
Status Status : Tiền là giấy đốt là cháy
Giới tính Giới tính : Nam

Bài gửiTiêu đề: thuyết minh bài Phú Sông Bạch Đằng
Xem lý lịch thành viên

Nguồn : Http://c1pro.123.st/t462-topic

Tiêu Đề : thuyết minh bài Phú Sông Bạch Đằng

10C1 - Kết Nối Cộng Đồng Lớp 10C1

--------------------------------------------------
Tác giả
Trương Hán Siêu (?-1354), tự là Thăng Phủ, quê ở Ninh Bình. Vốn là môn
khách của Hưng Đạo Vương. Dưới triều Trần Anh Tông, Trần Dụ Tông, ông
làm quan to trong triều. Lúc mất được truy tặng Thái bảo, được thờ ở
Văn Miếu.
Là bậc danh sĩ tài cao học rộng. Hiện còn để lại 4 bài thơ, 3 bài văn, nổi tiếng nhất là "Bạch Đằng giang phú".
"Phú" là gì?
"Phú" nghĩa đen là bày tỏ, miêu tả, là thể văn xuôi có vần dùng để tả
cảnh vật, phong tục, tính tình. Phú được chia làm hai loại:
1. Phú cổ thể gọi là Phú lưu thuỷ, như một bài ca, hoặc một bài văn xuôi dài mà có vần.
2. Phú Đường luật là thể phú được đặt ra từ đời Đường vừa có vần vừa có đối, có luật bằng trắc nghiêm nhặt.
Bố cục một bài phú gồm có 6 phần: 1, Lung; 2, Biện nguyên; 3, Thích thực; 4, Phu diễn; 5, Nghị luận; 6, Kết.
Cách đặt câu trong một bài phú gồm có các kiểu sau: Câu tứ tự, câu bát tự, câu song quan, câu cách cú, câu gối hạc.
Có hay chữ (tài giỏi), có tài hoa mới viết được phú. Cần hiểu thi pháp
về phú mới cảm nhận được cái hay của văn chương, tư tưởng của phú và
văn tế
Chủ đề
"Bạch Đằng giang phú" đã ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ từng ghi bao
chiến công oanh liệt của tổ tiên, biểu lộ niềm tự hào về đất nước ta có
"đất hiểm" có lắm anh hùng hào kiệt, để đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ nền
độc lập thanh bình bền vững.
Những nét lớn cần biết
1. "Bạch Đằng giang phú" được viết theo thể phú lưu thuỷ, có vần, tác
giả sử dụng phép đối nhiều chỗ. "Bài ca cuối bài phú" là một sự sáng
tạo. Nhân vật "khách" là nhân vật trữ tình - chính là nhà thơ.
2. Đoạn tả cảnh sắc Bạch Đằng giang hùng vĩ tráng lệ bằng cảm hứng thiên nhiên chan hoà với cảm hứng lịch sử là đoạn hay nhất:
"Bát ngát sóng kình muôn dặm
Thướt tha đuôi trĩ một mầu
Nước trời: một sắc
Phong cảnh: ba thu
Bờ lau san sát
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gẫy
Gò đầy xương khô..."
3. Bô lão xuất hiện cuộc đối thoại giữa "khách" và "bô lão" làm cho
giọng điệu bài phú từ cảm xúc trữ tình chuyển thành anh hùng ca. Nhà
thơ tái hiện lại cảnh tượng chiến trường một thời oanh liệt - trận thuỷ
chiến trên sông Bạch Đằng:
"Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã.
Cũng là bãi đất xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao.
Đương khi ấy
Thuyền bè muôn đội
Tinh kỳ phấp phới.
Tì hổ ba quân.
Giáo gươm sáng chói
Trận đánh thư hùng chửa phân,
Chiến luỹ Bắc, Nam chống đối.
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi
(...) Đến nay sông nước tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi"
4. Trận thuỷ chiến trên sông Bạch Đằng khác nào trận Xích Bích, trận Hợp Phì trong Bắc sử. Nhà thơ tự hào khẳng định và ngợi ca:
"Quả là trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an...
(...) Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng
Bởi Đại Vương coi thế giặc nhan ..."
5. Bài ca về sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng hùng vĩ, là mồ chôn quân xâm lược:
"Sông Đằng một giải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông."
Bài học giữ nước là bài học "đức cao" đó là lòng yêu nước, tinh thần đại đoàn kết chống xâm lăng. Ý tưởng sâu sắc, tiến bộ:
"Giặc tan muôn thuở thanh bình
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao."
Tổng kết
"Bạch Đằng giang phú" là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc. Ngôn ngữ
tráng lệ. Dòng sông hùng vĩ, hiểm trở. Dân tộc anh hùng có nhiều nhân
tài hào kiệt. Nhà thơ thể hiện những tư tưởng sâu sắc tiến bộ về vinh
và nhục, thắng và bại, tiêu vong và trường tồn, đất hiểm và đức cao...
Đó là bài học lịch sử sáng giá đến muôn đời.
Có những câu văn như một châm ngôn khẳng định một chân lí lịch sử.
"Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh"
__________________

---------- Post added at 09:59 AM ---------- Previous post was at 09:58 AM ----------

bài khác

Trương Hán Siêu là một danh sĩ đời Trần, sau lúc qua đời được vua Trần
truy phong là Thiếu Bảo.Ông còn để lại bốn bài thơ và ba bài văn “Dục
Thuý sơn khắc thạch”,”Linh TẾ Tháp ký”,”Khai Nghiêm tự bi”,”Bạch Đằng
giang phú”,…Trong thơ văn cỗ Việt Nam có một số tác phẫm lấy đề tài
sông Bạch Đằng nhưng”Bạch Đằng giang phú”cũa Trương Hán Siêu được xếp
vào hạng kiệt tác. Chưa rõ Trương Hán Siêu viết “Bạch Đằng giang
phú”vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu
vắng tá-Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, ta có thể đoán định được, bài
phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào
khoảng 1301-1354.

“Bạch Đằng giang phú” được viết bằng chữ Hán. Đông Châu Nguyễn Hữu
Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên… đã dịch khá thành công áng văn
này. Bài cảm nhận về “Bạch Đằng giang phú” dựa trên văn bản dịch của
giáo sư Bùi Văn Nguyên.

Phú là một thể văn cổ dùng để tả cảnh vật, phong tục hoặc tính tình.
Chất trữ tình và yếu tố khoa trương đậm đặc trong phú. Có phú cổ thể và
phú Đường luật. Phú cổ thể như một bài văn xuôi dài, có vần mà không
nhất thiết có đối, còn gọi là phú lưu thuỷ. Phú Đường luật được đặt ra
từ đời Đường, có vần, có đối, có luật bằng trắc chặt chữ, có những kiểu
câu được quy pạm rõ rang. “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu
viết theo lối phú cổ thể, có vần sử dụng phép đối rất sáng tạo:

... “Tiếng thơm đồn mãi,

Bia miệng không mòn.

Đến chơi sông chừ ủ mặt

Nhớ người xưa chừ lệ chan…”

Qua bài phú này, Trương Hán Siêu ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ, dòng
sông lịch sử đã gán liền với tên tuổi bao anh hùng, với bao chiến công
oanh liệt của nhân dân ta trong sự nghiệp chống xâm lăng. Nhà thơ khẳng
định: Núi sông hiểm trở, nhiều nhân tài hào kiệt đã tạo nên truyền
thống anh

Hùng của dân tộc, sự bền vững của Tổ quốc muôn đời. Lòng yêu nước, niềm
tự hào dân tộc là cảm hứng chủ đạo của “Bạch Đằng giang phú”.

“Giương buồm giong gió chơi vơi”.

“Khách có kẻ” trong “Bạch Đằng giang phú” là nhân vật trữ tình không ai
khác mà chính là Trương Hán Siêu. Trong các bài phú cổ, nhân vật
“khách” không mấy xa lạ. “Ngọc tỉnh liên phú” (bài phú Sen giếng ngọc)
của Mạc Đĩnh Chi (?-1346) cũng có nhân vật “khách”: … “Khách có kẻ: nơi
nhà cao tựa ghế, trưa mùa hạ nắng nồng. Ao trong ngắm làn nước biếc,
Nhạc phủ vịnh khúc Phù Dung”. “Khách” ở đây là Mạc Đĩnh Chi biểu lộ
tấmlòng thanh cao, chí khí, tài năng và hoài bão của kẻ sĩ ở đời.

Ta đã từng biết, Trương Hán Siêu là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, tính
tình cương trực, tâm hồn phóng khoáng. Chín câu đầu cho thấy “khách” là
một tao nhân với rượu túi thơ “chơi vơi” theo cánh buồm, làm bạn với
gió trăng qua mọi miền sông biển. Sống hết mình với thiên nhiên, du
ngạon thăm thú mọi cảnh đẹp xa gần. Đêm thì “chơi trăng mải miết”, ngày
thì: “Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương; Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”,...

Khách đã đi nhiều và biết nhiều. Các danh lam thắng cảnh như Nguyên
Tương, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt,… đều ở trên đất nước
Trung Hoa mênh mông, ở đây chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nói lên một cá
tính, một tâm hồn: yêu thiên nhiên tha thiết, lấy việc du ngoạn làm
niềm lạc thú ở đời, tự hào về thói “giang hồ” của mình:
“Nơi có người đi

Đâu mà chẳng biết”.

Các địa danh xa lạ không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian
bao la, chỉ có những người mang hoài bão và “tráng chí bốn phương” mới
có thể “giương buồm…lướt bể” đi tới. Đầm Vân Mộng là một thắng cảnh
tiêu biểu cho mọi thắng cảnh. Thế mà “Khách” đã “chứa vài trăm trong
dạ”, đã thăm thú nhiều lần đã từng thưởng ngoạn bao cảnh đẹp tương tự.
Vẫn chưa thoả lòng, vẫn còn “tha thiết” với bốn phương trời.

“Đầm Văn Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều

Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.

Phần đầu bài phú nói lên cốt cách kẻ sĩ: chan hoà với thiên nhiên, lấy
chữ “nhàn” làm trọng, gián tiếp phủ định lợi danh tầm thường.

“Qua cửa Đại Than… đến sông Bạch Đằng”

Đoạn văn tiếp theo nói lên niềm vui thú của nhà thơ khi đến chơi sông
Bạch Đằng. Trương Hán Siêu đã theo cái chí của người xưa “học Tử
Trương” đi về phía Đông Bắc “buông chèo” cho thỏa chí “tiêu diêu”.
Người xưa nói: “Muốn học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên
phải học cái chơi của Tử Trường”. Tử Trường là Tư Mã Thiên, tác giả bộ
“Sử ký” bất hủ, là nhà văn, nhà sử học tài ba đời Hán. Con người ấy vẫn
được xem là nhà du lịch có một không hai thời xưa. Trương Hán Siêu với
cánh buồm thơ lần theo sông núi:

“Qua cửa Đại than, ngược bến Đông triều,

Đến sông Bạch Đằng, bồng bềnh mái chèo”

“Bát ngát sóng kình muôn dặm”

Bạch Đẳng giang, con sông oai hùng của Tổ Quốc Đại Việt. Sông rộng và
dài, cuồn cuộn nhấp nhô sóng biếc.Cuối thu ( ba thu ) nước trời một mầu
xanh bao la “Bát ngát sóng kình muôn dặm - Thướt tha đuôi trĩ một màu-
Nước trời: một sắc- Phong cảnh ba thu”. Câu văn tả rhực mượn một hình
ảnh của Vương Bột trong bài “ Đằng Vương các” “ Thu thuỷ cộng trường
thiên nhất sắc” ( Sông thu cùng với trời xa một màu ). Tả con sóng Bạch
Đằng, vua Trần Minh Tông (1288-1356) viết : “Thuồng luồng nuốt thuỷ
triều, cuộn làn sóng bạc… Trông thấy nước dòng sông rọi bóng mặt trời
buổi chiều đỏ ối- Lầm tưởng rằg máu người chết vẫn chưa khô”( Bạch Đằng
giang –Dịch nghĩa ) Cảnh núi non, bờ bãi được miêu tả, đã tái hiện cảnh
chiến trường rùng rợn một thời:

“ Bờ lau san sát

Bến lách đìu hiu

Sông chìm giáo gãy

Gò đầy xương khô

Bpờ lau, bến lách gợi tả không khí hoang vu. hiu hắt. Núi gò, bờ bãi
trập trùng như gươm giáo, xương cốt lũ giặc phương Bắc chất đống. Nét
vẽ hoành tráng ấy, một thế kỷ sau Ức Trai cũng viết: “Ngạc chặt kình
băm non lởm chởm – Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng” ( “Cửa Biển Bạch
Đằng”).

Trương Hán Siêu miêu tả dòn sông Bạch Đằng bằng những đường nét, máu
sắc gợi cảm.Nhũng ẩn dụ và liên tưởng mói về dòng sông lịch sử hùng vĩ
được miêu tả qua những cặp câu song quan và tứ tự tuyệt đẹp. Mấy chục
năm sau trận đại thắng trên sông Bạch Đằng(1288) nhà thơ đến thăm dòng
sông cảm thương xúc động:

“ Buồn vì cảnh thảm

Đứng lặng giờ lâu

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”.

Một tâm trạng: “ buồn, thương tiếc”, một cảm xúc “ đứng lặng giờ lâu”
của “khách” đều biểu lộ sự xúc động, lòng tiếc thương và biết ơn sâu
sắc, vô hạn đối với anh hùng liệt sĩ đã đem xương máu bảo vệ dòng sông
vá sự tồn vong của dân tộc. Đó là tình nghĩa thuỷ chung “uống nước nhớ
nguồn”

“Mà nhục quân thù khôn rửa nổi”

Các bô lão – nhân vật thứ hai xuất hiện trong bài phú. Từ miêu tả và
trữ tình, nhà thơ chuyển sang tự sự, ngôn ngữ sống đọng biến hoá hẳn
lên, Cảm hứng lịch sử mang âm điệu anh hùng ca dâng lên dào dạt như
những lớp sóng trên sông Bạch Đằng vỗ. Khách và bô lão ngắm dòng sông,
nhìn con sóng nhấp nhô như sống lại những năm tháng hào hùng oanh liệt
của tổ tiên:

“ Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô mã,

Cũng là bãi đát xưa thuở trước Ngô chúa phá Hoàng Thao”.




Thanks kO Thanks Spam!

*Hãy cùng chia sẻ với bạn bè bằng cách *

Copy và gửi đến nick yahoo bạn bè!



thuyết minh bài Phú Sông Bạch Đằng

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Sô cô la :: .::: Góc Học Tập :::. :: Khoa Học Xã Hội-
Back to Top
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Sosblogs.com
@sô cô la